VuongHaiDa.com

Nguyễn Du
6
Thu Chí
Ngẫu Đề Công Quán Bích I
Tống Nhân
![]()
![]()
Năm Ất Sửu (1805) Nguyễn Du được thăng hàm Đông Các điện Học
Sĩ, tước Du Đức Hầu
và làm việc tại kinh đô Huế . Đây là một bài thơ trong tập thơ
chữ Hán "Nam Trung Tạp Ngâm" của
Nguyễn Du, sáng tác vào lúc Ông làm quan ở Thuận Hóa và Quảng
Bình, vào khoảng 1805-1812 .
Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch
Vô bệnh cố câu câu
Hồi thủ Lam Giang phố
Nhàn tâm tạ bạch âu
Nguyễn Du (1765-1820)
(Nam Trung Tạp Ngâm)
Dịch nghĩa:
Sông Hương một mảnh nguyệt
Từ xưa đến nay gợi bao mối sầu
Chuyện cũ gợi thương nhớ mồ cỏ xanh
Thu vừa đến trên đầu điểm bạc
Có hình hài nên phải làm lụng vất vả
Không bệnh mà như kẻ gù lưng
(ý nói làm quan phải khúm núm)
Ngoảnh đầu trông ngóng bến sông Lam
(Lam Giang là sông ở Hà Tĩnh, quê hương Nguyễn Du)
Lòng nhàn xin từ tạ cùng chim âu trắng
THU ĐẾN
Sông Hương một giải nguyệt cầm
Xưa nay khôn xiết trầm thâm nỗi sầu
Mồ xanh chuyện cũ thương đau
Thu vừa thấp thoáng mái đầu hoa râm
Mang hình hài khổ tấm thân
Người không bệnh tật lưng trần khom khom
Ngoảnh đầu trông bến sông Lam
Nhìn chim âu trắng lòng nhàn chẳng yên .
Hải Đà phỏng dịch
![]()
Xương hạp môn tiền xuân sắc lan
Cách giang dao đối Ngự Bình san
Xuân tòng giang thượng lai hà xứ ?
Nhân ỷ thiên nhai trệ nhất quan
Mãn địa phồn thanh văn dạ vũ
Nhất sàng cô muộn địch xuân hàn
Đào hoa mạc trượng đông quân ý
Bàng hữu phong di tính tối toan
Nguyễn Du (1765-1820)
(Nam Trung Tạp Ngâm)
Dịch nghĩa:
Trước cửa Xương hạp (cửa Vua) xuân sắp tàn
Xa xa đối với núi Ngự Bình cách một dòng sông
Xuân theo dòng nước trôi về đâu nhỉ ?
Người nương chân trời chậm trễ vì chức quan
Tiếng mưa đêm rả rích nghe đầy đất
Một mình trên giường cô độc chống khí lạnh của mùa xuân
Hoa đào chớ cậy có Đông quân (chúa Xuân) yêu mến
Bên cạnh còn có Thần gió tính ghen tuông nhỏ mọn
NGẪU ĐỀ VÁCH NHÀ CÔNG
Trước cửa nhà vua xuân sắp tàn
Ngự Bình ngăn cách nhánh sông ngang
Xuân xuôi nước chảy về đâu nhỉ
Kẻ dựa chân trời chậm chức quan
Đầy đất mưa đêm nghe tí tách
Giường đơn xuân lạnh khổ thân mang
Chúa Xuân chớ cậy, hoa đào nhé !
Thần Gió ghen tuông khéo bẽ bàng !
Hải Đà phỏng dịch
![]()
Hương Cần quan đạo liễu thanh thanh
Giang bắc giang nam vô hạn tình
Thượng uyển oanh kiều đa đố sắc
Cố hương thuần lão thượng kham canh
Triều đình hữu đạo thành
quân hiếu
Trúc thạch đa tàm phụ nhĩ minh
Trù trướng thâm tiêu cô đối ảnh
Mãn sàng trệ vũ bất kham thinh
Nguyễn Du (1765-1820)
(Nam Trung Tạp Ngâm)
Dịch nghĩa:
Ðường qua Hương Cần liễu xanh biếc
(Hương Cần là làng nổi tiếng về quít,
cách Huế chừng bốn cây số về phía Bắc)
Kẻ phía sông Bắc, người sông Nam, tình mãi vô tận
Trong vườn vua, oanh trẻ ghen nhau vì sắc đẹp
Ở quê cũ rau thuần già vẫn
nấu canh ngon
Triều đình có đạo lý khiến anh giữ
trọn chữ hiếu
Trúc đá cười tôi vì không giữ
trọn lời thề
(Trúc thạch : ý nói đã cùng khóm trúc tảng đá hẹn hò
chung sống-thú vui ẩn dật-,
mà lại quên lời hứa để ra làm quan)
Rầu rĩ buồn bã canh khuya một mình với bóng
Tiếng mưa dầm dề đầy giường nghe não nuột không chịu được
TIỄN BẠN
Hương Cần liễu biếc dọc đường qua
Kẻ Bắc người Nam nghĩa đậm đà
Oanh đẹp sắc ghen vườn thượng uyển
Thuần già canh ngọt chốn quê xa
Triều vua trọn đạo anh toàn hiếu
Trúc đá lỗi thề nhạo báng ta
Rầu rĩ thâu canh mình với bóng
Ðầy giường ray rứt tiếng mưa sa
Hải Đà phỏng dịch
![]()
![]()
![]()