VuongHaiDa.com

Nguyễn Du

 
Xuân Dạ
Xuân Tiêu Lữ Thứ
Hoàng Hạc Lâu
Vọng Phu Thạch
  

 

XUÂN DẠ 

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm ?
Tiểu song khai xứ liễu âm âm
Giang hồ bệnh đáo kinh th́ cửu
Phong vũ xuân tùng nhất dạ thâm
Ky lữ đa niên đăng hạ lệ
Gia hương thiên lư nguyệt trung tâm
Nam Đài thôn ngoại Long giang thủy
Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim).

Nguyễn Du (1765-1820)
(Thanh Hiên Thi Tập)


 
     

ĐÊM XUÂN 

Đêm đen đâu thấy ánh hừng đông
Khóm liễu âm thầm động liếp song
Khổ bệnh giang hồ tâm khiếp sợ
Đêm xuân mưa gió xót xa ḷng
Bao năm viễn khách châm đèn khóc
Ngàn dặm quê hương bóng nguyệt trông
Thôn cũ Nam Đài sông nước chảy
Cổ kim sóng tiễn lạnh đôi ḍng
Hải Đà  

XUÂN TIÊU LỮ THỨ 

Tiêu tiêu bồng mấn lăo phong trần
Ám lư thiên kinh vật hậu tân
Tŕ thảo vị lan thiên lư mộng
Đ́nh mai dĩ hoán nhất niên xuân
Anh hùng tâm sự hoang tŕ sính
Danh lợi doanh trường lụy tiếu tần
Nhân tự tiêu điều xuân tự hảo
Đoàn thành thành hạ nhất triêm cân
Nguyễn Du
(Thanh Hiên Thi Tập)
 

  QUÁN TRỌ ĐÊM XUÂN

Gió bụi phiêu bồng bạc tóc mây
Lặng thầm kinh sợ cảnh trời thay
Cỏ xanh ngh́n dặm chưa tàn mộng
Mai ngát thềm xuân đổi mới đầy
Sự thế anh hùng tâm đă nguội
Thương trường danh lợi khóc cười ngây
Người mang sầu khổ, xuân c̣n đẹp
Đứng dưới chân thành mắt lệ cay

Hải Đà
 

HOÀNG HẠC LÂU 

Hà xứ thần tiên kinh kỷ th́?
Do lưu tiên tích thử giang mi
Kim lai cổ văng Lư sinh mộng
Hạc khứ lầu không Thôi Hiệu thi
Hạm ngoại yên ba chung diếu diếu
Nhăn trung thảo thụ thượng y y
Trung t́nh vô hạn bằng thùy tố
Minh nguyệt thanh phong dă bất tri
Nguyễn Du 
(Bắc Hành Tạp Lục)

 

LẦU HOÀNG HẠC 

Tiên đến rồi đi tự chốn đây
Dấu tiên c̣n măi bến sông nầy
Lư Sinh tỉnh mộng đời qua vút
Thôi Hiệu đề thơ hạc thoắt bay
Khói sóng ngoài hiên mờ mịt phủ
Cỏ cây trước mắt mướt xanh đầy
T́nh thâm ấp ủ nào ai tỏ?
Gió núi trăng ngàn chẳng thấu hay
Hải Đà

 

VỌNG PHU THẠCH 

Thạch da ? Nhân da ? Bỉ hà nhân ?
Độc lập sơn đầu thiên bách xuân
Vạn kiếp điếu vô vân vũ mộng
Nhất trinh lưu đắc cổ kim thân
Lệ ngân bất tuyệt tam thu vũ
Đài triện trường minh nhất đoạn văn
Tứ vọng liên sơn Diếu vô tế
Độc giao nhi nữ thiện di luân
Nguyễn Du
(Thanh Hiên Thi Tập)

- Vọng Phu Thạch = Đá Vọng Phu , Ở Việt Nam có Đá Vọng Phu tại Lạng Sơn và B́nh Định . Bên Trung Hoa ở tỉnh Vơ Xương
- Bài của Nguyễn Du nói về Đá Vọng Phu ở Lạng Sơn
- Vân vũ mộng = mộng mây mưa, mộng ái ân . Vua Tương Vương nước Sở đi chơi ở quán Cao Đường nằm mộng thấy giai nhân đến cùng chung gối . Vua phán hỏi, giai nhân đáp: thiếp là Thần Nữ núi Vu Sơn, sớm làm mây, tối làm mưa chốn Dương Đài .
- Tam thu vũ = mưa trong ba tháng thu , ngụ ư là Tương Tư
"Nhất nhật bất kiến như tam thu hề " (cổ thi)
"Ba Thu dọn lại một ngày dài ghê" (Kiều) 
-Đài triện : ngấn rêu trông h́nh chữ triện
- Diếu = xa xôi
-Di luân = Di là Thiên đạo, Luân là nhân văn = luân thường đạo nghĩa
(trích Tố Như Thi, bản dịch Quách Tấn)

 

NÚI TRÔNG CHỒNG

 Đá hay người chẳng biết là ai ?
Đỉnh núi ngàn xuân đứng miệt mài
Bỏ mộng mây mưa từ vạn kiếp
Giữ thân trinh tiết đến muôn đời
Ba thu mưa lệ hoài không dứt
Một áng văn rêu măi tuyệt vời
Núi biếc mênh mông trùng điệp điệp 
Luân Thường phận gái gánh trên vai

Hải Đà


.

Back to top